Thư viện Trường Tiểu học Hoằng Quỳ
Darwin và cuộc hành trình của con tàu Beagle

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:44' 05-03-2024
Dung lượng: 9.9 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:44' 05-03-2024
Dung lượng: 9.9 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
1
Darwin and the Voyage of the Beagle
Copyright © Diverta Ltd. 2007
All rights reserved.
Bản tiếng Việt do Nhà xuất bản Trẻ xuất bản theo hợp đồng nhượng quyền
của công ty Diverta Ltd.
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Law, Felicia
Darwin và cuộc hành trình của con tàu Beagle / Felicia Law ; ng.d. Hoàng Huệ An ; m.h. Brenda McKetty. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
tr. ; cm.
Nguyên bản : Darwin and the voyage of the Beagle.
1. Darwin, Charles, 1809-1882 -- Tiểu thuyết . 2. Darwin, Charles, 1809-1882 -- Tiểu thuyết thanh thiếu niên. 3. Du hành quanh thế giới
-- Tiểu thuyết . 4. Tự nhiên học -- Tiểu thuyết . I. Hoàng Huệ An d. II. McKetty, Brenda m.h. III. Ts: Darwin and the voyage of the Beagle.
823 -- dc 22
L415
Felicia Law
Vẽ minh họa: Brenda McKetty
Phác họa: Ben Wood
Truyện giả tưởng về các công trình nghiên cứu của Charles Darwin
và những cuộc phiêu lưu trong suốt 5 năm trời của ông.
Khi viết cuốn truyện về những hoạt động của Darwin trong cuộc hành trình dài trên
con tàu Beagle này, tác giả đã thu thập tư liệu từ những tạp chí đã được xuất bản, những
cuốn nhật ký và thư từ của Charles Darwin và Thuyền trưởng Robert FitzRoy.
Nhân vật cậu bé bồi tàu Ben Sweet được hư cấu nhưng không khác với các cậu bé trạc
tuổi Ben làm việc trên các con tàu hải quân thời bấy giờ. Thực vậy, theo hồ sơ ghi chép,
sáu cậu bé đã làm việc với Thuyền trưởng FitzRoy trong cuộc du hành vòng quanh thế
giới của con tàu Beagle. Hơn nữa, tất cả những gì chúng ta biết sau đó về Darwin cho
thấy ông đã cư xử như là một người cha đầy trìu mến và chu đáo đối với những đứa trẻ bất
hạnh mà tài năng bị lãng quên.
Nhà xuất bản Trẻ
4
Capta
in Robert FitzRoy
Ben
Charles Darwin
5
ào ngày 27 tháng 12 năm 1831, một
chiếc thuyền nhỏ ba cột buồm đã vượt
sóng ra khơi tại Plymouth, bắt đầu chặng
đầu tiên của cuộc hành trình vòng quanh thế
giới. Con tàu đã neo đậu tại Nam Mỹ, ở vùng
biển phía Nam, Australia, New Zealand và
Mauritius. Nhiệm vụ của nó là vẽ bản đồ bờ
biển và vùng duyên hải ở những mốc neo đậu
quan trọng trong cuộc hành trình.
Trên tàu là thuyền trưởng và thủy thủ đoàn,
một tập hợp nhiều người với nghề nghiệp
khác nhau, trong đó gồm có một bác sĩ phẫu
thuật, một người chế tạo thiết bị, một nhà
truyền giáo, một họa sĩ, một nhà tự nhiên học
và ba người dân bản địa của hòn đảo Tierra
del Fuego. Con tàu mang tên là Beagle(1) và
thuyền trưởng của nó là ngài Robert FitzRoy.
Sứ mệnh của nó cũng không khác với nhiệm
vụ hàng hải được thực hiện bởi nhiều con tàu
khác thời bấy giờ.
Nhưng sau đó, một hành khách nữa được
mời lên tàu. Đó là một người đàn ông trẻ tuổi,
thông minh, thoải mái, không tỏ vẻ trí thức
hay nghiêm nghị. Thuyền trưởng FitzRoy
hy vọng rằng ông ta sẽ là một người bạn đồng
hành vui vẻ của mình trong những tháng lênh
đênh trên biển.
Thực ra, người đàn ông này còn mang
lại nhiều hơn thế nữa. Ông ta tên Charles
Darwin. Những nghiên cứu, khảo sát của ông
đã đưa cuộc hành trình đến những khám phá
V
1 beagle: loài chó săn thỏ (ND).
6
mới mẻ, không chỉ là những vùng đất hay
các dân tộc ở nơi xa xôi hẻo lánh mà còn về
chính chúng ta, về những hành vi, bản năng và
nguồn gốc của loài người...
Khi Darwin công bố những ý tưởng của
mình về cách thức mà các loài động vật, thực
vật và côn trùng đã tiến hóa và thay đổi dần
dần qua hàng triệu năm hình thành địa chất,
ông đã làm cho nhiều người vốn luôn luôn
tin vào lời dạy của Kinh Thánh phải sửng sốt.
Chúa Trời đã tạo nên mọi sinh vật, họ cãi lại.
Vậy làm thế nào Darwin có thể chứng minh
được thuyết tiến hóa từng bước của mình?
Điều này quả thật không dễ dàng. Phải mất
nhiều năm trời quan sát tỉ mỉ, thí nghiệm, thử
nghiệm và kiểm chứng mới có thể tập hợp đầy
đủ những bằng chứng khoa học. Tuy nhiên,
vào ngày hôm đó, ngày 27 tháng 12 năm 1831,
công việc này mới chỉ được bắt đầu...
ước chân của Darwin đột ngột dừng lại trên
mặt sàn cứng của mũi boong tàu.
Thế đấy! Trong hai năm tới hay có thể lâu hơn
nữa, việc tản bộ hàng ngày của ông sẽ bị giới hạn
trong bốn mươi tám bước dọc theo mạn phải của
boong tàu và bốn mươi tám bước ngược lại dọc
theo mạn trái boong tàu. Làm sao một con người
năng động, không yêu thích gì khác ngoài việc
đi dạo ở miền quê vào những ngày nghỉ, hoặc
lang thang suốt ngày trong khu rừng rộng hàng
hecta và tại những chuyến đi săn dài cả ngày trời
như mình lại có thể chịu đựng được điều này nhỉ,
Darwin tự hỏi.
Một ý nghĩ vụt lóe sáng trong đầu Darwin khi
ông bước đến cái cabin tù túng nằm dưới phòng
hoa tiêu mà ông và thuyền trưởng FitzRoy đang
ở chung. Ở đây, tám tuần trước, FitzRoy đã niềm
nở chào đón Darwin, chỉ cho Darwin những chiếc
hòm xiểng để ông có thể cất đặt hành lý của mình
và chỉ bảo cho Darwin cách cột chiếc võng sao cho
thoải mái, thuận tiện nhất.
Ý nghĩ về một cuộc thám hiểm đầy thú vị đã
xua đi những băn khoăn trong đầu Darwin.
Đây quả thực là một cơ hội bất ngờ đối với ông.
Giá mà giờ đây chiếc tàu có thể tiếp tục cuộc hải
hành nhỉ...
Sau nhiều tuần lễ, giờ đây chiếc Beagle đang
nằm náu mình trong hải cảng Devonport. Đây là
lần đầu tiên nó trì hoãn cuộc hành trình do toán
thợ mộc và các nhà lái buôn đã thực hiện quá
chậm chạp những công việc sửa chữa và tân trang
cần thiết cho chiếc tàu. Còn bây giờ những cơn
gió mạnh khủng khiếp của tháng Mười Hai đã
lại hai lần cản trở những nỗ lực ra khơi của tàu
Beagle.
B
7
arwin không ngừng đảo mắt về phía cánh buồm. Từ một vị trí thuận lợi ở trên boong
tàu, ông có thể quan sát mọi hoạt động bên dưới sàn tàu. Nhiều thủy thủ đang tra dầu mỡ
vào dây cáp, người phụ lái tàu đang lau chùi sạch boong chiếc bánh lái lần cuối cùng, người quản
lý việc neo đậu thuyền đang kiểm tra hệ thống dây chằng của sàn tàu, những kiện hàng được vận
chuyển muộn đang mất hút ở bên dưới hầm tàu. Vừa ngăn cơn gió mùa đông lạnh buốt như kim
châm vào mắt, Darwin chằm chằm nhìn lên phía trên để tìm kiếm anh chàng thủy thủ đang huýt
sáo. Từ cột buồm nhỏ phía trước boong tàu, một giai điệu ngắn được anh ta lặp đi lặp lại vang vọng
xuống bên dưới. Vâng, anh ta đang ở đấy. Cái bóng dáng nhỏ nhắn trên cột buồm xa xa kia như
đang vật lộn với cơn gió trêu ngươi, cố gắng cột chặt cánh buồm đang đập phần phật trong gió.
Darwin ngắm nhìn một lát rồi lại đảo mắt nhìn những cánh buồm vải đang nhấp nhô lượn sóng, từ
những cánh buồm trước mũi thuyền ở phía trên cao cho đến cột buồm chính ở giữa tàu, rồi đến
cột buồm nhỏ ở phía lái.
Bỗng nhiên, một vật sắc nhọn từ trên cao rơi vụt xuống, trúng ngay khuôn mặt đang
ngửa lên trời của Darwin. Ông cau mày vì quá đau đớn, không hiểu điều gì đã xảy ra.
Và rồi, khi nhìn thấy một chiếc bút chì nằm cạnh đấy, ông giận dữ truy tìm tên tội
phạm bất cẩn kia để quở trách.
Một cậu bé đang ngồi vắt vẻo trên đầu cột buồm, cách sàn boong
tàu khoảng vài chục mét. Chắc hẳn cậu bé đã ngồi ở đấy nãy giờ, im
lặng ngay trên đầu Darwin. Không một tiếng sột soạt hay cử động
nào của cậu ta tiết lộ sự có mặt của mình.
“Này, cậu bé!”, Darwin gọi, “Hãy xuống đây giải thích cho tôi
biết việc cậu vừa làm!”
Thậm chí từ một khoảng cách khá xa, Darwin vẫn cảm nhận
được vẻ thách thức bất cần của cậu bé bởi vì cậu ta chẳng có
vẻ gì là vội vã khi tìm cách bám vào dây buồm, chậm chạp
tụt xuống với một vẻ nghênh ngang, lười biếng. Cuối cùng,
cậu ta cũng nhảy xuống sàn, đứng ở mũi boong tàu. Darwin
nhìn thấy một cậu bé trạc chừng mười hai tuổi. Qua quần
áo của cậu ta ông đoán đó có lẽ là một cậu bé giúp việc ở
nhà kho: chiếc quần bằng vải bông dày với miếng đệm
ở đầu gối và chiếc áo khoác ngắn màu xanh đã bạc màu.
Darwin gằn giọng với anh chàng trông chẳng có vẻ thân
thiện này.
“Này, cậu là một nhà thiện xạ cừ khôi đấy! Nhưng tôi biết
cậu đang nghĩ rằng mình sẽ không phải là một vị anh hùng
vĩ đại nếu như đến xin lỗi tôi. Quỷ tha ma bắt cậu đi! Tại
sao cậu không la lên cảnh báo cho tôi? Tôi nghĩ mình nên
tạ ơn chúa vì đấy không phải là một cái chày vố!”
D
8
Cậu ta lầm bầm điều gì đó nhưng Darwin cũng nghe được một vài từ.
“Cậu nói gì đấy?”
“Tôi ở tít trên cao không thể báo cho ông biết được.”
“Thế cậu đã làm cái trò quái quỷ gì ở trên đó vậy?”
“Tôi ngồi trên đấy không phải để chơi!”. Cậu bé vừa giương mắt nhìn một cách bướng bỉnh vừa
cong người xuống.
Nhưng không có một hành động hung hãn nào từ phía cậu bé. Sự đe dọa lại từ hướng khác.
“Gì vậy, Sweet? Hãy xin lỗi ngài Darwin đi. Mày vừa làm quý ông này bực mình phải không?”
Một bàn tay nặng nề đặt lên vai cậu bé, xô cậu sang một bên rồi vụt một nhát roi vào má cậu.
“Sweet, mày đúng là đồ sâu bọ, đồ ăn hại cứ suốt ngày làu bàu. Dù mày có trốn chui trốn
nhủi ở đâu, tao cũng sẽ tóm cổ mày để dần cho một trận. Cả núi công việc đang chờ
mày kia kìa, oắt con ạ! Vậy mà mày lại trốn biệt để cho lũ bạn mày phải làm tất
cả! Cho nên bây giờ tao phải bắt mày làm việc gấp đôi. Mày hiểu chứ?”
Hắn dứ một nắm đấm đầy đe dọa về cậu bé đang loạng
choạng và hối hả bước về cánh cửa đang mở của căn phòng trên
boong tàu. Viên sĩ quan hậu cần quay sang xin lỗi Darwin và
phân trần như thể ông ta là một con người biết điều.
“Ngài biết không, tôi đã nhận sáu thằng bé phục vụ cho
chuyến đi này, vậy mà bây giờ chẳng có đứa nào trước mắt để sai
bảo cả. Và thằng Sweet là đứa tệ hại nhất trong đám này. Nó là
đứa ma mãnh và lười biếng. Một tên vô lại thực thụ. Bây giờ xin
phép ông tôi đi xem nó đang làm gì, kẻo rồi nó lại trốn mất lần
nữa.”.
Viên sĩ quan vuốt thẳng cái tạp dề như thể để trút bỏ cơn
giận lôi đình ban nãy. Darwin trầm ngâm nhìn ông ta bước
đi rồi cúi xuống nhặt lấy chiếc bút chì tội lỗi kia. Khi khom
người xuống, ông bắt gặp một mẩu giấy gập lại nằm trên sàn
tàu gồ ghề. Đó là tờ giấy dùng để lót trong hộp bánh bích
quy đã bỏ đi. Tò mò, ông mở ra xem. Chiếc bút chì và mẩu
giấy này ắt hẳn đã phục vụ cho chủ nhân của nó để phác
thảo nên một trong những bức họa ấn tượng và tài hoa
nhất. Darwin chưa bao giờ nhìn thấy một bức tranh sống
động như thế, trong đó vẽ hình một thủy thủ ở trên cột
buồm chính nổi bật giữa bầu trời đang giận dữ cuồn cuộn
giông tố. “Cậu bé này rõ ràng là một tên vô lại đầy tài năng,
nếu nó quả thực là một tên vô lại.”, Darwin nghĩ bụng. Ông
quyết định sẽ tìm hiểu thêm về cậu.
9
Ngày 27 tháng 12 năm 1831
ài ngày sau đó, ngày 27 tháng 12 năm 1831, cuối cùng
chiếc Beagle cũng giương buồm ra khơi. Dây neo được
nới lỏng, thủy thủ đoàn được bố trí trên sàn tàu để kéo mạnh
và cuộn lại dây chão theo nhịp điệu của chiếc còi tàu. Làn gió
nhẹ thổi vào những cánh buồm vừa giương lên khiến chiếc
tàu lướt nhẹ từ những bờ đá trú ẩn tiến ra vùng biển khơi gợn
sóng. Darwin đứng trên boong, phấn khích vì những hoạt
động diễn ra nhộn nhịp trên tàu. Dường như mọi thành viên
của thủy thủ đoàn lúc này đều rất hứng khởi với chuyến thám
hiểm vĩ đại, họ đang làm việc một cách hăng hái với kỷ
luật khác thường, răm rắp tuân theo những tín hiệu
điều khiển chính xác của vị thuyền trưởng.
Sau hàng tháng trời chờ đợi ra khơi, tối hôm ấy,
Thuyền trưởng FitzRoy và các sĩ quan tổ chức
một buổi ăn tối trang trọng trong gian phòng
đựng súng ống. Sau một buổi sáng bận rộn lo
xếp đặt lại hành lý, tư trang của mình cho gọn
gàng hơn và hít thở không khí trong lành trên
boong tàu, Darwin có cảm giác ăn rất ngon
miệng. Ông vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ với
những người lần đầu tiên gặp mặt, những
người mà chắc rằng sẽ trở nên rất quen thuộc
đối với ông trong suốt cuộc hành trình dài này.
Tối hôm đó, Darwin nằm cuộn mình trong
chiếc võng, lòng vô cùng hoan hỉ, sung sướng.
Vài giờ sau, ông bỗng thức giấc vì cảm thấy
buồn nôn, choáng váng. Trước đó khá lâu, dạ
dày ông đã lép kẹp. Ông nằm liệt giường, kiệt
sức vì suốt đêm ngắm sao qua ô cửa nhỏ ở trên
trần. Những ngôi sao cứ lắc lư, đung đưa lên
xuống. Ông đã nhìn thấy tia sáng rực rỡ đầu
tiên của buổi bình minh chiếu qua khung cửa
kính, nghe thấy tiếng động của các thủy thủ
đi lại trên boong tàu và tiếng ngài FitzRoy
nói lúng búng khi đang cạo râu trong phòng
rửa mặt. Nhưng ngay cả lời chào hỏi vui
vẻ của vị thuyền trưởng lẫn mùi thịt xông
V
10
khói thơm lừng cũng không tài nào lôi được
ông ngồi dậy. Ông nằm rên rỉ suốt buổi sáng
hôm đó, hai lần lảo đảo vào phòng vệ sinh để
nôn thốc nôn tháo hết những gì còn sót lại
trong chiếc dạ dày trống rỗng.
Chiều hôm ấy, khi đang mệt nhọc thiếp đi,
Darwin nghe thấy tiếng gõ rụt rè ở cửa phòng.
Không còn hơi sức để trả lời hay cúi mình chào
khách, ông quay lưng lại và vùi đầu vào gối.
Một lát sau, cảm giác có một bàn tay đặt trên
vai, ông quay lại và bắt gặp vẻ cáu kỉnh quen
thuộc của cậu bé bồi phòng. Cậu đưa ra một
bát xúp loãng, chẳng có màu hay mùi vị gì hấp
dẫn cả. Do vậy, Darwin chẳng buồn ăn, tiếp
tục nằm dài nhưng cũng cố gắng gợi chuyện
cải thiện mối quan hệ với cậu bé kia.
“Cậu thực chu đáo!”, Darwin nói, nở nụ cười
yếu ớt. “Tuy vậy, cậu vẫn còn nợ tôi đấy nhé!”
“Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh thôi.”, Sweet
làu bàu. “Ông không phải là người duy nhất bị
say sóng trên chiếc tàu này đâu.”
Trong giây lát, vẻ cáu kỉnh trên gương mặt
cậu bé có lẽ qua đi nhường chỗ cho một nụ
cười tinh nghịch.
“Tôi cũng đoan chắc vậy khi người ta phải ở
trên một con tàu cứ bị nhồi lên nhồi xuống thế
này giữa đại dương.” Darwin trả lời.
“Có lẽ ông chưa từng đi biển.” Cậu bé giễu
cợt. “Đấy mới chỉ là những làn gió nhẹ đẩy
chiếc tàu đi. Rồi ông sẽ thấy nó còn tệ hại hơn
nữa, nhưng sau đó ông sẽ quen đi lại trên tàu
mà không bị say sóng.”
“Không bao giờ!”, Darwin rên rỉ. “Tôi e
rằng tôi không thể sống đến khi ấy!”
Cậu bé cười, một nụ cười thực sự mà
Darwin bắt gặp lần đầu tiên trên khuôn mặt
cậu. “À, ít bữa ông sẽ qua khỏi thôi mà.”
“Này cậu bé, cậu tên gì?”, Darwin hỏi.
“Làm thế nào cậu lại quen với sóng gió trên
tàu như vậy?”
“Tôi tên là Sweet, Ben Sweet. Tôi sinh ra là
để đi biển. Bố tôi và cả ông tôi trước đây đều là
thợ đóng tàu. Cả đời họ làm nghề đóng tàu.”
11
“Vậy bố cậu đã qua đời rồi, phải không
Sweet?”, Darwin nhẹ nhàng hỏi.
“Vâng”. Vẻ cáu kỉnh lại trở về trên gương
mặt của Ben. “Và tôi cũng sẽ như vậy nếu bây
giờ tôi không quay về làm việc.” Vừa nói xong,
cậu bé giựt phắt bát xúp rồi bỏ đi.
Sáng hôm sau, tình yêu đối với thế giới xung
quanh đã giúp Darwin hồi phục và đủ sức để
chào đón Ben và bữa điểm tâm với món bánh
sago nóng pha chút ít gia vị thơm phức. Ăn
xong, ông ngồi lặng yên dựa vào chiếc tủ đựng
hải đồ và quan sát cậu bé bồi phòng.
Ben hình như cũng không vội đi. Cậu bé
vẩn vơ sờ mó vào những dụng cụ đi biển quý
giá được chất đầy trong các kệ tủ trong căn
phòng nhỏ. Khi tìm thấy nhiều chiếc khay nhỏ
đựng cát, cậu bé càng tò mò hơn nữa.
“Đó là những chiếc đồng hồ bấm giờ”,1
Darwin giải thích. “Có cả thảy hai mươi hai
chiếc vì Thuyền trưởng FitzRoy muốn mọi
việc trên tàu đều phải đúng giờ. Nhưng Ben
này, hãy để tôi chỉ cho cậu xem những chiếc
la bàn. Chúng là những dụng cụ rất đúng
và chính xác. Hãy xem những chiếc kim bị
nhiễm từ này được cân bằng như thế nào để
chúng luôn luôn chỉ về hướng bắc.”
Ben cũng làm quen với chiếc kính lục phân2
và học cách giữ cho vị trí của mặt trời và chân
trời ở trên cùng đường thẳng để xác định vĩ
độ của con tàu trên biển. Darwin càng lúc
càng đánh giá cao sự thông minh và tài năng
của cậu bé. Điều đó đã thôi thúc Darwin chỉ
cho Ben xem chiếc tủ lớn chứa đầy sách của
ông và những nghiên cứu của các nhà địa chất
học, các nhà sinh vật học, các nhà thám hiểm
nổi tiếng, rồi đến những chiếc kẹp gắp, kim
cúc, bình lọ, dao phẫu thuật, khay và những
vật dụng linh tinh khác sẽ sử dụng trong việc
nghiên cứu riêng của Darwin trong cuộc hành
trình dài này.
“Vậy đây sẽ là một chuyến đi dài, phải
không?” Ben hỏi. Lần đầu tiên cậu tỏ thái độ
quan tâm như vậy.
Kính lục phân
Đồng hồ
bấm giờ
***
***
1. tiếng Anh: chronometer
12
2. Một loại dụng cụ dùng để xác định tọa độ tàu thuyền
trên biển (tiếng Anh: sextant)
“Phải mất nhiều năm, Ben ạ! Cậu không
biết vậy à?”, Darwin trả lời.
“Điều này đối với tôi không thành vấn đề”,
cậu bé nhún vai.
Cứ thế, qua lời kể của cậu bé, Darwin dần
dần tìm hiểu được nguyên nhân về cái chết
của bố cậu, và việc Thuyền trưởng FitzRoy
trong một lần đến thăm xưởng đóng tàu đã tìm
thấy chỉ còn một cậu bé mồ côi, đơn độc và
khốn khổ ra sao.
“Ông ấy bảo tôi có thể lên tàu làm việc để
tỏ lòng tôn kính cha tôi và để kiếm sống bằng
chính sự lao động của mình. Nhưng bản thân
ông ta tới giờ cũng chưa hề phải làm việc với
viên sĩ quan hậu cần độc ác kia!”
“Dù sao, ông ta cũng là người tốt và là người
mà con phải báo đáp ơn nghĩa bằng nỗ lực của
mình!”, Darwin nghiêm nghị nói. “Bản thân
con cũng nợ mình một số thứ, Ben ạ. Về phần
con, đừng để chuyến thám hiểm này qua đi
như một cực hình. Bản thân ta cũng nguyện sẽ
tận dụng từng giây phút của cuộc hành trình
này để hoàn thiện con người và kiến thức của
mình. Và con cũng phải làm như thế!”.
Có lẽ những lời sâu sắc này đã có tác dụng.
Vì vậy, khi Darwin trải tấm hải đồ với những
chi tiết tinh tế ra bàn, Ben đã hăng hái tham
gia vào việc phác thảo đường đi của cuộc hành
trình sắp tới, gần như theo hướng từ phía nam
đến bờ biển Brazil, đi xuống biển đông của
Nam Mỹ, rồi đi lên vùng biển phía tây. Từ
đấy, họ sẽ vượt qua Thái Bình Dương đến
Quần đảo Galapagos, đến các quần đảo ở Nam
Thái Bình Dương, New Zealand, Australia, và
rồi vượt qua Ấn Độ Dương đến Nam Phi và
trở về nhà.
“Ben, con thấy đấy! Từ một cậu bé, con sẽ
trở thành một chàng trai ngay trên chiếc tàu
này. Và đối với cả hai chúng ta, chuyến đi này
có thể là một bước ngoặt trong cuộc đời mình.”
Hải đồ vùng
Santa Cruz
(khu vực cản
g và sông ng
òi) do
Robert FitzR
oy và các sĩ
quan
của tàu HM
S Beagle vẽ
trong
cuộc hành tr
ình
13
Con tàu HMS Beagle
rong lúc đang hăng say thảo luận, Darwin ngạc
nhiên thấy rằng ông đã khỏe hơn. Vì vậy, ông đề
nghị lên boong tàu để hít thở không khí trong lành.
“Nhiều nơi trên con tàu này ta chưa đến xem, Ben
à! Đi nào, con sẽ là chiếc nạng chống đỡ ta
và là người dẫn đường cho ta.”
“Viên sĩ quan hậu cần sẽ biết rằng nãy giờ con chưa
đi đâu xa, ngài Darwin à!”, cậu bé nói và lắc đầu.
“Ta sẽ nói với thuyền trưởng giúp con, Ben!
Ta vừa nghĩ rằng viên sĩ quan hậu cần kia ít sử dụng
tài năng đặc biệt của con hơn ta. Con có muốn
giúp đỡ ta bằng cách thu thập các mẫu vật, sắp xếp
phân loại chúng và phác họa một số chi tiết
hay không?”
“Đây quả là điều con mong ước!”, cậu bé
kêu to, không nén nổi nụ cười toe toét
đến tận mang tai.
T
14
Mặt cắt ngang của con tàu
Beagle cho thấy vị trí của các khi
vực làm việc chính, các phòng ngủ,
khu bếp và nhà kho của tàu
15
Ngày 16 tháng 1 năm 1832
hư đã dự đoán, khả năng đi lại trên chiếc tàu chòng chành của Darwin ngày một tốt hơn
và ông không ngừng tiến hành công việc của một nhà tự nhiên học.
Tin đáng thất vọng là chiếc tàu sẽ không thể cập bến đảo Tenerife mà phải tiếp tục đi thêm
chín ngày nữa để đến quần đảo Cape Verde, việc này đã gợi cho ông ý nghĩ làm một chiếc lưới rà
kéo. Chiếc lưới này có hình dạng của một chiếc túi lớn, một đầu được giữ cho mở ra nhờ một chiếc
cung hình bán nguyệt, có thể được kéo dọc theo đằng sau con tàu.
Mỗi mẻ lưới chứa một lượng lớn các sinh vật biển nhỏ bé mà nhiều thứ trong số đó trước đây
Darwin chưa hề nhìn thấy. Ông cẩn thận phân loại chúng trên boong tàu, đặt những thứ đáng
quan tâm nhất sang một bên để rồi sau đó nghiên cứu kỹ lưỡng hơn trong căn phòng phía sau đuôi
tàu. Mặc dù nhiều sinh vật biển trong số này ở dạng rất đơn giản của sự sống và chỉ có ý nghĩa
như là một nguồn thức ăn cho các loài cá lớn, nhưng khi quan sát dưới kính hiển vi
chúng có hình dạng và màu sắc rất đẹp.
Nhưng đây mới chỉ là sự khởi đầu.
Vào ngày 16 tháng 1 năm 1832, họ cập bến lên quần đảo Cape
Verde và sau khi đã dựng trại trên đảo Quail, Darwin và Ben dự
định thám hiểm nơi chốn dường như hoang vắng này. Hòn đảo
này có đường kính chỉ vào khoảng 1km. Trong vòng hai
ngày tiếp theo, cả hai người đã đi khắp mọi nơi trên đảo,
thu thập nhiều loài động vật, san hô và những mẫu đá
núi lửa.
Khi tìm kiếm trong các vũng đá, Ben đã biết
được con Aplysia là gì. “Nó chẳng qua là chỉ là loài
hải sâm béo”, cậu bé nói với vẻ ghê tởm vừa chọc
một ngón tay vào con vật màu vàng to lớn, bẩn
thỉu. “Nó có các xúc tu màu vàng và huyết
quản màu tím chảy khắp cơ thể.” Và rồi đột
nhiên Ben rụt ngón tay lại, kêu oai oái. Con
bạch tuộc khi kháng cự lại kẻ đang ngăn
cản bữa ăn của nó đã tiết ra một thứ chất
lỏng gây bỏng rát. Vài giây sau, nó phun ra
một chất màu đỏ tím, làm nước trong vực
nhanh chóng bị nhuộm màu để nó dễ dàng
tẩu thoát.
Darwin cười. “Điều này dạy cho con một
bài học là phải biết tôn trọng loài bạch tuộc ở
đây,” ông nói, gật đầu ra hiệu đi đến một vực
khác.
N
16
Thoạt đầu, Ben không thể phác họa hình dạng con bạch tuộc. “Nó không dễ dàng bị phát hiện,”
cậu bé nói, “nó dường như thay đổi màu sắc để hòa lẫn vào nền đất. Xem kìa, nó chuyển từ màu tím
sang màu vàng hơi lục rồi lại trở về màu xám.”
“Đó là cách thức tốt nhất để các loài sinh vật tự vệ, Ben ạ.” Darwin nói. “Nhưng nếu kẻ thù bắt
được nó, nó sẽ bắn ra một tia nước từ một cái ống ở phía đầu của nó, hay làm nước biển nhuốm
màu mực đen để kẻ thù không nhìn thấy nơi nó đang lẩn trốn”.
Vài tuần lễ trước khi Darwin và Ben nhìn thấy miền đất tiếp theo, chỉ khi đặt chân lên St Paul's
Rocks, họ mới bắt gặp những động vật không
giống những con bạch tuộc và hải
sâm, chúng không có hình thức
tự vệ nào cả. Hàng nghìn con
chim hải yến và mòng biển1
chen chúc đậu trên các
vách đá lởm chởm. Chúng
dường như chưa từng
biết đến loài người đến
nỗi các thủy thủ có thể
dễ dàng nhặt trứng của
chúng trong tổ hoặc giết
để làm thức ăn chỉ đơn giản
bằng cách ném đá vào đầu
chúng.
Mòng biển
***
1. Tiếng Anh: booby
17
18
19
20
Ngày 28 tháng 2 năm 1832
úc ấy đã vào cuối tháng 2, trước khi con
tàu Beagle đến Nam Mỹ và vào vịnh San
Salvador trên bờ biển Brazil để tiếp nước và
lương thực dự trữ. Đây là một thị trấn có vị trí
tuyệt đẹp. Nó nằm ở phía trên cao của vịnh
với nhiều tòa nhà cao màu trắng nằm lẫn giữa
rừng cây rậm rạp. Phía trước, các chiến hạm với
cột buồm cao và các thương thuyền đang thả
neo trong làn nước phẳng lặng của vịnh Các
Thánh. Như thường lệ, Darwin rất thích dạo
chơi trên đất liền. Những tuần vừa qua ông
đã dành hết thời gian cho việc sưu tập các loài
động vật biển và mới đây ông cũng đã có dịp
thu thập những mẫu san hô và các loài động
vật không xương sống có vỏ trong vùng biển
cạn quanh bờ biển Brazil. Một con cá rất đặc
biệt đã thu hút sự chú ý của Darwin. Con cá
nóc gai này có lớp da mềm nhão đến nỗi nó có
thể tự căng phồng lên thành một quả cầu bằng
cách hút nước và không khí vào dạ dày. Khi đã
phồng lên hết cỡ, những chỗ phình lên ở phía
đuôi của nó sẽ trở nên cứng chắc và biến thành
những chiếc gai nhọn để tự vệ. Con cá nóc gai
này cũng có thể tự vệ bằng cách tiết ra một thứ
dịch có màu đỏ sẫm hoặc sử dụng những chiếc
răng sắc nhọn để tấn công. Người ta cũng đã
từng biết đến việc một con cá nóc thoát ra khỏi
miệng cá mập bằng cách dùng răng chống trả.
Tuy nhiên, điều Darwin thực sự quan tâm
chính là các loài côn trùng. Để nghiên cứu
chúng, Darwin cần phải thám hiểm vào thảm
thực vật rậm rạp và đầy lôi cuốn của các khu
rừng rậm Brazil. Vùng ngoại ô của thị trấn San
Salvador được vây quanh bởi bức tường xanh
thẫm của khu rừng mưa nhiệt đới. Nhưng đó
đây, trong những khoảng rừng thưa nhỏ đã
L
bị chặt phá, nhiều loài thực vật có quả và hạt
mọc chen chúc lẫn nhau, đấu tranh với nhau
để giành lấy sự sinh tồn. Ben đang dừng cuộc
thám hiểm để nhét vào miệng cậu ta chuối,
cam, đu đủ và những thứ trái cây hấp dẫn khác
mọc hai bên đường, và Darwin phải ngăn lại...
“Con thích được bỏ lại trên đảo hoang này”,
Ben vừa nói vừa nhai tóp tép phần thịt của quả
dừa mà cậu ta vừa bẻ đôi ra uống thỏa mãn cơn
khát của mình. “Con có thể thết mình một
bữa yến tiệc của ông hoàng với những thứ trái
cây này.”
“Ta đồng ý”, Darwin vừa nói vừa trỏ vào
những trái bắp, những củ khoai có mùi vị
giống như khoai lang, đó là một loài chuối gọi
là chuối lá(1), và những củ khoai mì đầy tinh
bột. “Nhưng chúng ta sẽ không bị bỏ lại trên
đảo hoang này đâu, Ben ạ. Ta e rằng ta phải lôi
con ra khỏi bữa tiệc này nếu như ta muốn tiếp
tục cuộc thám hiểm của ta. Tuy vậy, ta cũng
sẽ không để con phải làm việc với cái dạ dày
trống rỗng đâu !”
1 tiếng Anh : plantain
21
Ngày 29 tháng 2 năm 1832
ột giờ cuốc bộ đã đưa họ vào sâu trong khu rừng. Darwin
say mê đứng nhìn. Mặc dù suốt dọc đường dàn hợp xướng
inh ỏi của các loài côn trùng gần như đã khiến họ điếc tai, nhưng
ở đây không một âm thanh nào có thể xuyên qua sự yên tĩnh
tuyệt đối này. Cây cối quấn chặt lấy nhau, vươn cao trên đầu họ
giống như những cái cột buồm của một con tàu, nhưng màu xanh của
chúng đậm đến nỗi che hết cả ánh sáng mặt trời. Những nơi nào các cành
cây không vươn đến được thì ở đó có những đám rêu Tây Ban Nha xanh
um. Các loài dây leo có lá mượt như nhung và những bông hoa lớn, sặc sỡ
phản chiếu những tia nắng mặt trời được lọc qua lá cây. Một con mắt sáng
lấp ló giữa các răng lược của cây cọ bắp cải và những chiếc lông đầy màu
sắc lóe sáng đã thu hút sự chú ý của Ben.
“Nó là con vẹt phải không ?”, cậu ta thì thầm đầy hào hứng.
“Nó là con chim tucăng,(1)” Darwin trả lời. Hãy quan sát hình dạng cái
mỏ của con chim. Bất kỳ loài chim nào mà thức ăn chính là trái cây đều có
chiếc mỏ cong; còn loài chim ăn cá do phải thăm dò con mồi trơn tuột hay
vùng vẫy nên lại có cái mỏ dài và hẹp. Những loài chim ăn côn trùng thì có
mỏ như chiếc kẹp nhỏ, còn loài ăn hạt quả lại cần có cái mỏ chắc khỏe. Con
thấy đấy, tất cả đều là kết quả của việc quan sát. Để đạt được những kết quả
M
1 tiếng Anh: toucan
22
này cần phải có đôi mắt tinh tế.”
Có nhiều loài chim ruồi, tất cả chúng đều
nhỏ xíu, luôn lượn lờ quanh những bông hoa, và
thỉnh thoảng đuổi theo những chú bướm đang định hút
mật hoa. Cánh của những con chim này cử động nhanh
đến nỗi họ thấy chúng dường như không động đậy chút
nào. Chỉ có tiếng đập cánh vù vù và tốc độ bay nhanh đến
mức lao vút đi đã cho thấy những đôi cánh luôn bận rộn kia
là những chiếc bánh lái hiệu quả biết dường nào.
Darwin và Ben vừa đến một chỗ đất khá bằng phẳng thì
trời cũng bắt đầu mưa. Những giọt mưa nặng hạt và ấm áp
lộp độp rơi xuống, xuyên qua những tán lá bóng loáng,
làm cho bầu không khí trở nên ẩm ướt. Ngạc nhiên vì
nỗi những tán lá của khu rừng không đủ che chở họ khỏi
bị ướt, họ bắt đầu băng mình chạy ngược xuống theo hướng
con đường mòn. Nhưng Darwin và cậu bé đã bị ướt sũng trước
khi trận
mưa như trút nước kia dừng lại cũng đột ngột y như
khi nó bắt đầu rơi xuống.
23
Ngày 4 tháng 4 năm 1832
uối cùng, Darwin cũng không thất vọng
vì ông đã có cả ba tháng ở Brazil, phần lớn
là ở trong làng Botofogo ở bên ngoài thành phố
Rio de Janeiro. Tại đây, ông thuê một túp lều
tranh để từ đó có thể dễ dàng đến thăm khu
rừng mưa nhiệt đới thường xuyên. Ông không
bao giờ trở về tay không. Khi biết rằng có một
vài loài nhện nhiệt đới và bọ hung nhỏ hơn các
loài ông đã từng nhìn thấy ở London, Darwin
tập trung mọi nỗ lực để thu thập những loài
này. Với sự giúp đỡ của Ben, chẳng bao lâu
sau ông đã đóng gói một thùng lớn đựng các
mẫu vật trong bông gòn để gởi về vị giáo sư và
cũng là người bạn cũ của ông, nhà sinh vật học
Henslow.
Chẳng mấy chốc Ben cũng học được rằng
cần phải tìm kiếm thứ gì, dù rằng bản thân lũ
côn trùng thường lẩn trốn cậu ở khoảng cách
rất xa. Cần phải tinh mắt để nhận ra được con
côn trùng màu xám đục lẫn giữa một nhánh
cây cùng màu. Cũng cần phải có kinh nghiệm
C
24
để khám phá ra rằng một con bọ cạp trông có
vẻ dữ tợn thực chất chỉ là một con bọ vô hại,
hay một loại trái cây có chất độc thực ra chỉ là
một con bọ cánh cứng. Cả hai loài này đều tự
cải trang nhằm bảo vệ mình khỏi những động
vật săn mồi. Darwin chỉ cho Ben xem một con
bọ mà cánh của nó có thể làm người ta nhầm
tưởng là một chiếc lá rụng và một con bọ khác
trông giống như một cụm gồm nhiều cánh hoa.
Trong những lùm cây nhỏ màu cam,
Darwin thu thập được nhiều mẫu vật của
loài bướm đốm xám Papilio Feronia, một loài
bướm nhỏ đặc biệt có thể giở ra nhiều trò cải
trang kỳ lạ nhằm đánh lừa kẻ thù.
Lúc đầu, thật khó có thể dùng cặp nhíp
Ong bắp cày
Pepsis
Bướm Papilio
Feronia
Sâu củ
a
Bướm đ
u
ôi én
để bắt con bướm này do nó có thói quen đậu
xoãi cánh ra chứ không gập lại như những loài
bướm khác. Hơn nữa, nó còn khả năng chạy
trốn bằng chân và nhiều lần đã thoát khỏi tầm
với của Darwin. Ông gọi Ben đến nghe tiếng
tanh tách ầm ĩ khi nó đuổi theo một con bướm
cái qua các bụi cây. Ngay cả khi ở cách xa hai
mươi mét, họ vẫn nghe thấy rất rõ những âm
thanh này.
Một lần nọ, họ tình cờ bắt gặp một trận thư
hùng giữa một con ong bắp cày Pepsis và một
con nhện lớn. Con ong lao bổ vào tấn công
liên tiếp. Mặc dù đã chống trả một cách dũng
mãnh, cuối cùng con nhện cũng bị thương và
phải bò lết vào một đám cỏ cao. Tuy vậy, con
ong vẫn không buông tha. Nó lùng sục ngược
xuôi cho đến lúc phát hiện ra nơi ẩn náu của
con mồi, và lao vào chích cho hai phát chí
mạng. Khi con nhện đã chết, con ong bắp cày
bèn đáp xuống bên cạnh để lôi xác kẻ thù đi.
“Eo ôi!” Ben vừa kêu lên vừa xua nó đi.
“Eo ôi!” Darwin bắt chước và búng nhẹ vào
nó lần nữa. “Mặc dù quy luật của rừng già quy
định rằng tất cả sinh vật đều phải hoặc là kẻ
săn mồi hoặc là bị ăn thịt, nhưng ta vẫn thương
xót cho kẻ bị thua.”
Buổi tối, họ thường ngồi bên ngoài túp lều
tranh, vừa lắng nghe tiếng nỉ non của dàn đồng
ca gồm ve, dế và ếch nhái, vừa ngắm nhìn
những con đom đóm lập lòe ở trước hàng dậu.
Cũng như loài sâu phát sáng, ánh sáng của côn
trùng phát ra từ một chất lỏng sáng ở ngay dưới
bề mặt của lớp vỏ. Nó tỏa sáng rất rõ qua hai
cái vòng lớn ở vòng bụng của côn trùng. Khi
Darwin chạm vào một con đóm đóm, nó thậm
chí phát sáng còn mạnh hơn và ông nhận thấy
rằng những vệt sáng này vẫn tiếp tục phát sáng
thêm gần hai mươi bốn giờ sau khi loài côn
trùng này đã chết.
25
21
ột lần nọ, Darwin và Ben trở về với sáu
mươi tám loài bọ cánh cứng nhỏ xíu khác
nhau. Darwin vui mừng khôn xiết với thành quả
này. Sau khi cẩn thận chọn lựa từng con của
mỗi loài cho các bộ sưu tập của mình, Darwin
giết những con côn trùng bằng thuốc độc.
“Có thể nói rằng đây là một bộ sưu tập
về bọ cánh cứng tuyệt vời nhất mà ta
đã từng thực hiện,” Darwin nói một
cách vui sướng khi ông và Ben phân
loại những con côn trùng thành từng
dãy theo màu sắc, giới tính và các
đặc điểm khác, sau đó ghim chúng
thành những hàng ngay ngắn trên những khay
đựng mẫu của ông.
“Ngài chưa hề nghĩ rằng ...
Darwin and the Voyage of the Beagle
Copyright © Diverta Ltd. 2007
All rights reserved.
Bản tiếng Việt do Nhà xuất bản Trẻ xuất bản theo hợp đồng nhượng quyền
của công ty Diverta Ltd.
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Law, Felicia
Darwin và cuộc hành trình của con tàu Beagle / Felicia Law ; ng.d. Hoàng Huệ An ; m.h. Brenda McKetty. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
tr. ; cm.
Nguyên bản : Darwin and the voyage of the Beagle.
1. Darwin, Charles, 1809-1882 -- Tiểu thuyết . 2. Darwin, Charles, 1809-1882 -- Tiểu thuyết thanh thiếu niên. 3. Du hành quanh thế giới
-- Tiểu thuyết . 4. Tự nhiên học -- Tiểu thuyết . I. Hoàng Huệ An d. II. McKetty, Brenda m.h. III. Ts: Darwin and the voyage of the Beagle.
823 -- dc 22
L415
Felicia Law
Vẽ minh họa: Brenda McKetty
Phác họa: Ben Wood
Truyện giả tưởng về các công trình nghiên cứu của Charles Darwin
và những cuộc phiêu lưu trong suốt 5 năm trời của ông.
Khi viết cuốn truyện về những hoạt động của Darwin trong cuộc hành trình dài trên
con tàu Beagle này, tác giả đã thu thập tư liệu từ những tạp chí đã được xuất bản, những
cuốn nhật ký và thư từ của Charles Darwin và Thuyền trưởng Robert FitzRoy.
Nhân vật cậu bé bồi tàu Ben Sweet được hư cấu nhưng không khác với các cậu bé trạc
tuổi Ben làm việc trên các con tàu hải quân thời bấy giờ. Thực vậy, theo hồ sơ ghi chép,
sáu cậu bé đã làm việc với Thuyền trưởng FitzRoy trong cuộc du hành vòng quanh thế
giới của con tàu Beagle. Hơn nữa, tất cả những gì chúng ta biết sau đó về Darwin cho
thấy ông đã cư xử như là một người cha đầy trìu mến và chu đáo đối với những đứa trẻ bất
hạnh mà tài năng bị lãng quên.
Nhà xuất bản Trẻ
4
Capta
in Robert FitzRoy
Ben
Charles Darwin
5
ào ngày 27 tháng 12 năm 1831, một
chiếc thuyền nhỏ ba cột buồm đã vượt
sóng ra khơi tại Plymouth, bắt đầu chặng
đầu tiên của cuộc hành trình vòng quanh thế
giới. Con tàu đã neo đậu tại Nam Mỹ, ở vùng
biển phía Nam, Australia, New Zealand và
Mauritius. Nhiệm vụ của nó là vẽ bản đồ bờ
biển và vùng duyên hải ở những mốc neo đậu
quan trọng trong cuộc hành trình.
Trên tàu là thuyền trưởng và thủy thủ đoàn,
một tập hợp nhiều người với nghề nghiệp
khác nhau, trong đó gồm có một bác sĩ phẫu
thuật, một người chế tạo thiết bị, một nhà
truyền giáo, một họa sĩ, một nhà tự nhiên học
và ba người dân bản địa của hòn đảo Tierra
del Fuego. Con tàu mang tên là Beagle(1) và
thuyền trưởng của nó là ngài Robert FitzRoy.
Sứ mệnh của nó cũng không khác với nhiệm
vụ hàng hải được thực hiện bởi nhiều con tàu
khác thời bấy giờ.
Nhưng sau đó, một hành khách nữa được
mời lên tàu. Đó là một người đàn ông trẻ tuổi,
thông minh, thoải mái, không tỏ vẻ trí thức
hay nghiêm nghị. Thuyền trưởng FitzRoy
hy vọng rằng ông ta sẽ là một người bạn đồng
hành vui vẻ của mình trong những tháng lênh
đênh trên biển.
Thực ra, người đàn ông này còn mang
lại nhiều hơn thế nữa. Ông ta tên Charles
Darwin. Những nghiên cứu, khảo sát của ông
đã đưa cuộc hành trình đến những khám phá
V
1 beagle: loài chó săn thỏ (ND).
6
mới mẻ, không chỉ là những vùng đất hay
các dân tộc ở nơi xa xôi hẻo lánh mà còn về
chính chúng ta, về những hành vi, bản năng và
nguồn gốc của loài người...
Khi Darwin công bố những ý tưởng của
mình về cách thức mà các loài động vật, thực
vật và côn trùng đã tiến hóa và thay đổi dần
dần qua hàng triệu năm hình thành địa chất,
ông đã làm cho nhiều người vốn luôn luôn
tin vào lời dạy của Kinh Thánh phải sửng sốt.
Chúa Trời đã tạo nên mọi sinh vật, họ cãi lại.
Vậy làm thế nào Darwin có thể chứng minh
được thuyết tiến hóa từng bước của mình?
Điều này quả thật không dễ dàng. Phải mất
nhiều năm trời quan sát tỉ mỉ, thí nghiệm, thử
nghiệm và kiểm chứng mới có thể tập hợp đầy
đủ những bằng chứng khoa học. Tuy nhiên,
vào ngày hôm đó, ngày 27 tháng 12 năm 1831,
công việc này mới chỉ được bắt đầu...
ước chân của Darwin đột ngột dừng lại trên
mặt sàn cứng của mũi boong tàu.
Thế đấy! Trong hai năm tới hay có thể lâu hơn
nữa, việc tản bộ hàng ngày của ông sẽ bị giới hạn
trong bốn mươi tám bước dọc theo mạn phải của
boong tàu và bốn mươi tám bước ngược lại dọc
theo mạn trái boong tàu. Làm sao một con người
năng động, không yêu thích gì khác ngoài việc
đi dạo ở miền quê vào những ngày nghỉ, hoặc
lang thang suốt ngày trong khu rừng rộng hàng
hecta và tại những chuyến đi săn dài cả ngày trời
như mình lại có thể chịu đựng được điều này nhỉ,
Darwin tự hỏi.
Một ý nghĩ vụt lóe sáng trong đầu Darwin khi
ông bước đến cái cabin tù túng nằm dưới phòng
hoa tiêu mà ông và thuyền trưởng FitzRoy đang
ở chung. Ở đây, tám tuần trước, FitzRoy đã niềm
nở chào đón Darwin, chỉ cho Darwin những chiếc
hòm xiểng để ông có thể cất đặt hành lý của mình
và chỉ bảo cho Darwin cách cột chiếc võng sao cho
thoải mái, thuận tiện nhất.
Ý nghĩ về một cuộc thám hiểm đầy thú vị đã
xua đi những băn khoăn trong đầu Darwin.
Đây quả thực là một cơ hội bất ngờ đối với ông.
Giá mà giờ đây chiếc tàu có thể tiếp tục cuộc hải
hành nhỉ...
Sau nhiều tuần lễ, giờ đây chiếc Beagle đang
nằm náu mình trong hải cảng Devonport. Đây là
lần đầu tiên nó trì hoãn cuộc hành trình do toán
thợ mộc và các nhà lái buôn đã thực hiện quá
chậm chạp những công việc sửa chữa và tân trang
cần thiết cho chiếc tàu. Còn bây giờ những cơn
gió mạnh khủng khiếp của tháng Mười Hai đã
lại hai lần cản trở những nỗ lực ra khơi của tàu
Beagle.
B
7
arwin không ngừng đảo mắt về phía cánh buồm. Từ một vị trí thuận lợi ở trên boong
tàu, ông có thể quan sát mọi hoạt động bên dưới sàn tàu. Nhiều thủy thủ đang tra dầu mỡ
vào dây cáp, người phụ lái tàu đang lau chùi sạch boong chiếc bánh lái lần cuối cùng, người quản
lý việc neo đậu thuyền đang kiểm tra hệ thống dây chằng của sàn tàu, những kiện hàng được vận
chuyển muộn đang mất hút ở bên dưới hầm tàu. Vừa ngăn cơn gió mùa đông lạnh buốt như kim
châm vào mắt, Darwin chằm chằm nhìn lên phía trên để tìm kiếm anh chàng thủy thủ đang huýt
sáo. Từ cột buồm nhỏ phía trước boong tàu, một giai điệu ngắn được anh ta lặp đi lặp lại vang vọng
xuống bên dưới. Vâng, anh ta đang ở đấy. Cái bóng dáng nhỏ nhắn trên cột buồm xa xa kia như
đang vật lộn với cơn gió trêu ngươi, cố gắng cột chặt cánh buồm đang đập phần phật trong gió.
Darwin ngắm nhìn một lát rồi lại đảo mắt nhìn những cánh buồm vải đang nhấp nhô lượn sóng, từ
những cánh buồm trước mũi thuyền ở phía trên cao cho đến cột buồm chính ở giữa tàu, rồi đến
cột buồm nhỏ ở phía lái.
Bỗng nhiên, một vật sắc nhọn từ trên cao rơi vụt xuống, trúng ngay khuôn mặt đang
ngửa lên trời của Darwin. Ông cau mày vì quá đau đớn, không hiểu điều gì đã xảy ra.
Và rồi, khi nhìn thấy một chiếc bút chì nằm cạnh đấy, ông giận dữ truy tìm tên tội
phạm bất cẩn kia để quở trách.
Một cậu bé đang ngồi vắt vẻo trên đầu cột buồm, cách sàn boong
tàu khoảng vài chục mét. Chắc hẳn cậu bé đã ngồi ở đấy nãy giờ, im
lặng ngay trên đầu Darwin. Không một tiếng sột soạt hay cử động
nào của cậu ta tiết lộ sự có mặt của mình.
“Này, cậu bé!”, Darwin gọi, “Hãy xuống đây giải thích cho tôi
biết việc cậu vừa làm!”
Thậm chí từ một khoảng cách khá xa, Darwin vẫn cảm nhận
được vẻ thách thức bất cần của cậu bé bởi vì cậu ta chẳng có
vẻ gì là vội vã khi tìm cách bám vào dây buồm, chậm chạp
tụt xuống với một vẻ nghênh ngang, lười biếng. Cuối cùng,
cậu ta cũng nhảy xuống sàn, đứng ở mũi boong tàu. Darwin
nhìn thấy một cậu bé trạc chừng mười hai tuổi. Qua quần
áo của cậu ta ông đoán đó có lẽ là một cậu bé giúp việc ở
nhà kho: chiếc quần bằng vải bông dày với miếng đệm
ở đầu gối và chiếc áo khoác ngắn màu xanh đã bạc màu.
Darwin gằn giọng với anh chàng trông chẳng có vẻ thân
thiện này.
“Này, cậu là một nhà thiện xạ cừ khôi đấy! Nhưng tôi biết
cậu đang nghĩ rằng mình sẽ không phải là một vị anh hùng
vĩ đại nếu như đến xin lỗi tôi. Quỷ tha ma bắt cậu đi! Tại
sao cậu không la lên cảnh báo cho tôi? Tôi nghĩ mình nên
tạ ơn chúa vì đấy không phải là một cái chày vố!”
D
8
Cậu ta lầm bầm điều gì đó nhưng Darwin cũng nghe được một vài từ.
“Cậu nói gì đấy?”
“Tôi ở tít trên cao không thể báo cho ông biết được.”
“Thế cậu đã làm cái trò quái quỷ gì ở trên đó vậy?”
“Tôi ngồi trên đấy không phải để chơi!”. Cậu bé vừa giương mắt nhìn một cách bướng bỉnh vừa
cong người xuống.
Nhưng không có một hành động hung hãn nào từ phía cậu bé. Sự đe dọa lại từ hướng khác.
“Gì vậy, Sweet? Hãy xin lỗi ngài Darwin đi. Mày vừa làm quý ông này bực mình phải không?”
Một bàn tay nặng nề đặt lên vai cậu bé, xô cậu sang một bên rồi vụt một nhát roi vào má cậu.
“Sweet, mày đúng là đồ sâu bọ, đồ ăn hại cứ suốt ngày làu bàu. Dù mày có trốn chui trốn
nhủi ở đâu, tao cũng sẽ tóm cổ mày để dần cho một trận. Cả núi công việc đang chờ
mày kia kìa, oắt con ạ! Vậy mà mày lại trốn biệt để cho lũ bạn mày phải làm tất
cả! Cho nên bây giờ tao phải bắt mày làm việc gấp đôi. Mày hiểu chứ?”
Hắn dứ một nắm đấm đầy đe dọa về cậu bé đang loạng
choạng và hối hả bước về cánh cửa đang mở của căn phòng trên
boong tàu. Viên sĩ quan hậu cần quay sang xin lỗi Darwin và
phân trần như thể ông ta là một con người biết điều.
“Ngài biết không, tôi đã nhận sáu thằng bé phục vụ cho
chuyến đi này, vậy mà bây giờ chẳng có đứa nào trước mắt để sai
bảo cả. Và thằng Sweet là đứa tệ hại nhất trong đám này. Nó là
đứa ma mãnh và lười biếng. Một tên vô lại thực thụ. Bây giờ xin
phép ông tôi đi xem nó đang làm gì, kẻo rồi nó lại trốn mất lần
nữa.”.
Viên sĩ quan vuốt thẳng cái tạp dề như thể để trút bỏ cơn
giận lôi đình ban nãy. Darwin trầm ngâm nhìn ông ta bước
đi rồi cúi xuống nhặt lấy chiếc bút chì tội lỗi kia. Khi khom
người xuống, ông bắt gặp một mẩu giấy gập lại nằm trên sàn
tàu gồ ghề. Đó là tờ giấy dùng để lót trong hộp bánh bích
quy đã bỏ đi. Tò mò, ông mở ra xem. Chiếc bút chì và mẩu
giấy này ắt hẳn đã phục vụ cho chủ nhân của nó để phác
thảo nên một trong những bức họa ấn tượng và tài hoa
nhất. Darwin chưa bao giờ nhìn thấy một bức tranh sống
động như thế, trong đó vẽ hình một thủy thủ ở trên cột
buồm chính nổi bật giữa bầu trời đang giận dữ cuồn cuộn
giông tố. “Cậu bé này rõ ràng là một tên vô lại đầy tài năng,
nếu nó quả thực là một tên vô lại.”, Darwin nghĩ bụng. Ông
quyết định sẽ tìm hiểu thêm về cậu.
9
Ngày 27 tháng 12 năm 1831
ài ngày sau đó, ngày 27 tháng 12 năm 1831, cuối cùng
chiếc Beagle cũng giương buồm ra khơi. Dây neo được
nới lỏng, thủy thủ đoàn được bố trí trên sàn tàu để kéo mạnh
và cuộn lại dây chão theo nhịp điệu của chiếc còi tàu. Làn gió
nhẹ thổi vào những cánh buồm vừa giương lên khiến chiếc
tàu lướt nhẹ từ những bờ đá trú ẩn tiến ra vùng biển khơi gợn
sóng. Darwin đứng trên boong, phấn khích vì những hoạt
động diễn ra nhộn nhịp trên tàu. Dường như mọi thành viên
của thủy thủ đoàn lúc này đều rất hứng khởi với chuyến thám
hiểm vĩ đại, họ đang làm việc một cách hăng hái với kỷ
luật khác thường, răm rắp tuân theo những tín hiệu
điều khiển chính xác của vị thuyền trưởng.
Sau hàng tháng trời chờ đợi ra khơi, tối hôm ấy,
Thuyền trưởng FitzRoy và các sĩ quan tổ chức
một buổi ăn tối trang trọng trong gian phòng
đựng súng ống. Sau một buổi sáng bận rộn lo
xếp đặt lại hành lý, tư trang của mình cho gọn
gàng hơn và hít thở không khí trong lành trên
boong tàu, Darwin có cảm giác ăn rất ngon
miệng. Ông vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ với
những người lần đầu tiên gặp mặt, những
người mà chắc rằng sẽ trở nên rất quen thuộc
đối với ông trong suốt cuộc hành trình dài này.
Tối hôm đó, Darwin nằm cuộn mình trong
chiếc võng, lòng vô cùng hoan hỉ, sung sướng.
Vài giờ sau, ông bỗng thức giấc vì cảm thấy
buồn nôn, choáng váng. Trước đó khá lâu, dạ
dày ông đã lép kẹp. Ông nằm liệt giường, kiệt
sức vì suốt đêm ngắm sao qua ô cửa nhỏ ở trên
trần. Những ngôi sao cứ lắc lư, đung đưa lên
xuống. Ông đã nhìn thấy tia sáng rực rỡ đầu
tiên của buổi bình minh chiếu qua khung cửa
kính, nghe thấy tiếng động của các thủy thủ
đi lại trên boong tàu và tiếng ngài FitzRoy
nói lúng búng khi đang cạo râu trong phòng
rửa mặt. Nhưng ngay cả lời chào hỏi vui
vẻ của vị thuyền trưởng lẫn mùi thịt xông
V
10
khói thơm lừng cũng không tài nào lôi được
ông ngồi dậy. Ông nằm rên rỉ suốt buổi sáng
hôm đó, hai lần lảo đảo vào phòng vệ sinh để
nôn thốc nôn tháo hết những gì còn sót lại
trong chiếc dạ dày trống rỗng.
Chiều hôm ấy, khi đang mệt nhọc thiếp đi,
Darwin nghe thấy tiếng gõ rụt rè ở cửa phòng.
Không còn hơi sức để trả lời hay cúi mình chào
khách, ông quay lưng lại và vùi đầu vào gối.
Một lát sau, cảm giác có một bàn tay đặt trên
vai, ông quay lại và bắt gặp vẻ cáu kỉnh quen
thuộc của cậu bé bồi phòng. Cậu đưa ra một
bát xúp loãng, chẳng có màu hay mùi vị gì hấp
dẫn cả. Do vậy, Darwin chẳng buồn ăn, tiếp
tục nằm dài nhưng cũng cố gắng gợi chuyện
cải thiện mối quan hệ với cậu bé kia.
“Cậu thực chu đáo!”, Darwin nói, nở nụ cười
yếu ớt. “Tuy vậy, cậu vẫn còn nợ tôi đấy nhé!”
“Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh thôi.”, Sweet
làu bàu. “Ông không phải là người duy nhất bị
say sóng trên chiếc tàu này đâu.”
Trong giây lát, vẻ cáu kỉnh trên gương mặt
cậu bé có lẽ qua đi nhường chỗ cho một nụ
cười tinh nghịch.
“Tôi cũng đoan chắc vậy khi người ta phải ở
trên một con tàu cứ bị nhồi lên nhồi xuống thế
này giữa đại dương.” Darwin trả lời.
“Có lẽ ông chưa từng đi biển.” Cậu bé giễu
cợt. “Đấy mới chỉ là những làn gió nhẹ đẩy
chiếc tàu đi. Rồi ông sẽ thấy nó còn tệ hại hơn
nữa, nhưng sau đó ông sẽ quen đi lại trên tàu
mà không bị say sóng.”
“Không bao giờ!”, Darwin rên rỉ. “Tôi e
rằng tôi không thể sống đến khi ấy!”
Cậu bé cười, một nụ cười thực sự mà
Darwin bắt gặp lần đầu tiên trên khuôn mặt
cậu. “À, ít bữa ông sẽ qua khỏi thôi mà.”
“Này cậu bé, cậu tên gì?”, Darwin hỏi.
“Làm thế nào cậu lại quen với sóng gió trên
tàu như vậy?”
“Tôi tên là Sweet, Ben Sweet. Tôi sinh ra là
để đi biển. Bố tôi và cả ông tôi trước đây đều là
thợ đóng tàu. Cả đời họ làm nghề đóng tàu.”
11
“Vậy bố cậu đã qua đời rồi, phải không
Sweet?”, Darwin nhẹ nhàng hỏi.
“Vâng”. Vẻ cáu kỉnh lại trở về trên gương
mặt của Ben. “Và tôi cũng sẽ như vậy nếu bây
giờ tôi không quay về làm việc.” Vừa nói xong,
cậu bé giựt phắt bát xúp rồi bỏ đi.
Sáng hôm sau, tình yêu đối với thế giới xung
quanh đã giúp Darwin hồi phục và đủ sức để
chào đón Ben và bữa điểm tâm với món bánh
sago nóng pha chút ít gia vị thơm phức. Ăn
xong, ông ngồi lặng yên dựa vào chiếc tủ đựng
hải đồ và quan sát cậu bé bồi phòng.
Ben hình như cũng không vội đi. Cậu bé
vẩn vơ sờ mó vào những dụng cụ đi biển quý
giá được chất đầy trong các kệ tủ trong căn
phòng nhỏ. Khi tìm thấy nhiều chiếc khay nhỏ
đựng cát, cậu bé càng tò mò hơn nữa.
“Đó là những chiếc đồng hồ bấm giờ”,1
Darwin giải thích. “Có cả thảy hai mươi hai
chiếc vì Thuyền trưởng FitzRoy muốn mọi
việc trên tàu đều phải đúng giờ. Nhưng Ben
này, hãy để tôi chỉ cho cậu xem những chiếc
la bàn. Chúng là những dụng cụ rất đúng
và chính xác. Hãy xem những chiếc kim bị
nhiễm từ này được cân bằng như thế nào để
chúng luôn luôn chỉ về hướng bắc.”
Ben cũng làm quen với chiếc kính lục phân2
và học cách giữ cho vị trí của mặt trời và chân
trời ở trên cùng đường thẳng để xác định vĩ
độ của con tàu trên biển. Darwin càng lúc
càng đánh giá cao sự thông minh và tài năng
của cậu bé. Điều đó đã thôi thúc Darwin chỉ
cho Ben xem chiếc tủ lớn chứa đầy sách của
ông và những nghiên cứu của các nhà địa chất
học, các nhà sinh vật học, các nhà thám hiểm
nổi tiếng, rồi đến những chiếc kẹp gắp, kim
cúc, bình lọ, dao phẫu thuật, khay và những
vật dụng linh tinh khác sẽ sử dụng trong việc
nghiên cứu riêng của Darwin trong cuộc hành
trình dài này.
“Vậy đây sẽ là một chuyến đi dài, phải
không?” Ben hỏi. Lần đầu tiên cậu tỏ thái độ
quan tâm như vậy.
Kính lục phân
Đồng hồ
bấm giờ
***
***
1. tiếng Anh: chronometer
12
2. Một loại dụng cụ dùng để xác định tọa độ tàu thuyền
trên biển (tiếng Anh: sextant)
“Phải mất nhiều năm, Ben ạ! Cậu không
biết vậy à?”, Darwin trả lời.
“Điều này đối với tôi không thành vấn đề”,
cậu bé nhún vai.
Cứ thế, qua lời kể của cậu bé, Darwin dần
dần tìm hiểu được nguyên nhân về cái chết
của bố cậu, và việc Thuyền trưởng FitzRoy
trong một lần đến thăm xưởng đóng tàu đã tìm
thấy chỉ còn một cậu bé mồ côi, đơn độc và
khốn khổ ra sao.
“Ông ấy bảo tôi có thể lên tàu làm việc để
tỏ lòng tôn kính cha tôi và để kiếm sống bằng
chính sự lao động của mình. Nhưng bản thân
ông ta tới giờ cũng chưa hề phải làm việc với
viên sĩ quan hậu cần độc ác kia!”
“Dù sao, ông ta cũng là người tốt và là người
mà con phải báo đáp ơn nghĩa bằng nỗ lực của
mình!”, Darwin nghiêm nghị nói. “Bản thân
con cũng nợ mình một số thứ, Ben ạ. Về phần
con, đừng để chuyến thám hiểm này qua đi
như một cực hình. Bản thân ta cũng nguyện sẽ
tận dụng từng giây phút của cuộc hành trình
này để hoàn thiện con người và kiến thức của
mình. Và con cũng phải làm như thế!”.
Có lẽ những lời sâu sắc này đã có tác dụng.
Vì vậy, khi Darwin trải tấm hải đồ với những
chi tiết tinh tế ra bàn, Ben đã hăng hái tham
gia vào việc phác thảo đường đi của cuộc hành
trình sắp tới, gần như theo hướng từ phía nam
đến bờ biển Brazil, đi xuống biển đông của
Nam Mỹ, rồi đi lên vùng biển phía tây. Từ
đấy, họ sẽ vượt qua Thái Bình Dương đến
Quần đảo Galapagos, đến các quần đảo ở Nam
Thái Bình Dương, New Zealand, Australia, và
rồi vượt qua Ấn Độ Dương đến Nam Phi và
trở về nhà.
“Ben, con thấy đấy! Từ một cậu bé, con sẽ
trở thành một chàng trai ngay trên chiếc tàu
này. Và đối với cả hai chúng ta, chuyến đi này
có thể là một bước ngoặt trong cuộc đời mình.”
Hải đồ vùng
Santa Cruz
(khu vực cản
g và sông ng
òi) do
Robert FitzR
oy và các sĩ
quan
của tàu HM
S Beagle vẽ
trong
cuộc hành tr
ình
13
Con tàu HMS Beagle
rong lúc đang hăng say thảo luận, Darwin ngạc
nhiên thấy rằng ông đã khỏe hơn. Vì vậy, ông đề
nghị lên boong tàu để hít thở không khí trong lành.
“Nhiều nơi trên con tàu này ta chưa đến xem, Ben
à! Đi nào, con sẽ là chiếc nạng chống đỡ ta
và là người dẫn đường cho ta.”
“Viên sĩ quan hậu cần sẽ biết rằng nãy giờ con chưa
đi đâu xa, ngài Darwin à!”, cậu bé nói và lắc đầu.
“Ta sẽ nói với thuyền trưởng giúp con, Ben!
Ta vừa nghĩ rằng viên sĩ quan hậu cần kia ít sử dụng
tài năng đặc biệt của con hơn ta. Con có muốn
giúp đỡ ta bằng cách thu thập các mẫu vật, sắp xếp
phân loại chúng và phác họa một số chi tiết
hay không?”
“Đây quả là điều con mong ước!”, cậu bé
kêu to, không nén nổi nụ cười toe toét
đến tận mang tai.
T
14
Mặt cắt ngang của con tàu
Beagle cho thấy vị trí của các khi
vực làm việc chính, các phòng ngủ,
khu bếp và nhà kho của tàu
15
Ngày 16 tháng 1 năm 1832
hư đã dự đoán, khả năng đi lại trên chiếc tàu chòng chành của Darwin ngày một tốt hơn
và ông không ngừng tiến hành công việc của một nhà tự nhiên học.
Tin đáng thất vọng là chiếc tàu sẽ không thể cập bến đảo Tenerife mà phải tiếp tục đi thêm
chín ngày nữa để đến quần đảo Cape Verde, việc này đã gợi cho ông ý nghĩ làm một chiếc lưới rà
kéo. Chiếc lưới này có hình dạng của một chiếc túi lớn, một đầu được giữ cho mở ra nhờ một chiếc
cung hình bán nguyệt, có thể được kéo dọc theo đằng sau con tàu.
Mỗi mẻ lưới chứa một lượng lớn các sinh vật biển nhỏ bé mà nhiều thứ trong số đó trước đây
Darwin chưa hề nhìn thấy. Ông cẩn thận phân loại chúng trên boong tàu, đặt những thứ đáng
quan tâm nhất sang một bên để rồi sau đó nghiên cứu kỹ lưỡng hơn trong căn phòng phía sau đuôi
tàu. Mặc dù nhiều sinh vật biển trong số này ở dạng rất đơn giản của sự sống và chỉ có ý nghĩa
như là một nguồn thức ăn cho các loài cá lớn, nhưng khi quan sát dưới kính hiển vi
chúng có hình dạng và màu sắc rất đẹp.
Nhưng đây mới chỉ là sự khởi đầu.
Vào ngày 16 tháng 1 năm 1832, họ cập bến lên quần đảo Cape
Verde và sau khi đã dựng trại trên đảo Quail, Darwin và Ben dự
định thám hiểm nơi chốn dường như hoang vắng này. Hòn đảo
này có đường kính chỉ vào khoảng 1km. Trong vòng hai
ngày tiếp theo, cả hai người đã đi khắp mọi nơi trên đảo,
thu thập nhiều loài động vật, san hô và những mẫu đá
núi lửa.
Khi tìm kiếm trong các vũng đá, Ben đã biết
được con Aplysia là gì. “Nó chẳng qua là chỉ là loài
hải sâm béo”, cậu bé nói với vẻ ghê tởm vừa chọc
một ngón tay vào con vật màu vàng to lớn, bẩn
thỉu. “Nó có các xúc tu màu vàng và huyết
quản màu tím chảy khắp cơ thể.” Và rồi đột
nhiên Ben rụt ngón tay lại, kêu oai oái. Con
bạch tuộc khi kháng cự lại kẻ đang ngăn
cản bữa ăn của nó đã tiết ra một thứ chất
lỏng gây bỏng rát. Vài giây sau, nó phun ra
một chất màu đỏ tím, làm nước trong vực
nhanh chóng bị nhuộm màu để nó dễ dàng
tẩu thoát.
Darwin cười. “Điều này dạy cho con một
bài học là phải biết tôn trọng loài bạch tuộc ở
đây,” ông nói, gật đầu ra hiệu đi đến một vực
khác.
N
16
Thoạt đầu, Ben không thể phác họa hình dạng con bạch tuộc. “Nó không dễ dàng bị phát hiện,”
cậu bé nói, “nó dường như thay đổi màu sắc để hòa lẫn vào nền đất. Xem kìa, nó chuyển từ màu tím
sang màu vàng hơi lục rồi lại trở về màu xám.”
“Đó là cách thức tốt nhất để các loài sinh vật tự vệ, Ben ạ.” Darwin nói. “Nhưng nếu kẻ thù bắt
được nó, nó sẽ bắn ra một tia nước từ một cái ống ở phía đầu của nó, hay làm nước biển nhuốm
màu mực đen để kẻ thù không nhìn thấy nơi nó đang lẩn trốn”.
Vài tuần lễ trước khi Darwin và Ben nhìn thấy miền đất tiếp theo, chỉ khi đặt chân lên St Paul's
Rocks, họ mới bắt gặp những động vật không
giống những con bạch tuộc và hải
sâm, chúng không có hình thức
tự vệ nào cả. Hàng nghìn con
chim hải yến và mòng biển1
chen chúc đậu trên các
vách đá lởm chởm. Chúng
dường như chưa từng
biết đến loài người đến
nỗi các thủy thủ có thể
dễ dàng nhặt trứng của
chúng trong tổ hoặc giết
để làm thức ăn chỉ đơn giản
bằng cách ném đá vào đầu
chúng.
Mòng biển
***
1. Tiếng Anh: booby
17
18
19
20
Ngày 28 tháng 2 năm 1832
úc ấy đã vào cuối tháng 2, trước khi con
tàu Beagle đến Nam Mỹ và vào vịnh San
Salvador trên bờ biển Brazil để tiếp nước và
lương thực dự trữ. Đây là một thị trấn có vị trí
tuyệt đẹp. Nó nằm ở phía trên cao của vịnh
với nhiều tòa nhà cao màu trắng nằm lẫn giữa
rừng cây rậm rạp. Phía trước, các chiến hạm với
cột buồm cao và các thương thuyền đang thả
neo trong làn nước phẳng lặng của vịnh Các
Thánh. Như thường lệ, Darwin rất thích dạo
chơi trên đất liền. Những tuần vừa qua ông
đã dành hết thời gian cho việc sưu tập các loài
động vật biển và mới đây ông cũng đã có dịp
thu thập những mẫu san hô và các loài động
vật không xương sống có vỏ trong vùng biển
cạn quanh bờ biển Brazil. Một con cá rất đặc
biệt đã thu hút sự chú ý của Darwin. Con cá
nóc gai này có lớp da mềm nhão đến nỗi nó có
thể tự căng phồng lên thành một quả cầu bằng
cách hút nước và không khí vào dạ dày. Khi đã
phồng lên hết cỡ, những chỗ phình lên ở phía
đuôi của nó sẽ trở nên cứng chắc và biến thành
những chiếc gai nhọn để tự vệ. Con cá nóc gai
này cũng có thể tự vệ bằng cách tiết ra một thứ
dịch có màu đỏ sẫm hoặc sử dụng những chiếc
răng sắc nhọn để tấn công. Người ta cũng đã
từng biết đến việc một con cá nóc thoát ra khỏi
miệng cá mập bằng cách dùng răng chống trả.
Tuy nhiên, điều Darwin thực sự quan tâm
chính là các loài côn trùng. Để nghiên cứu
chúng, Darwin cần phải thám hiểm vào thảm
thực vật rậm rạp và đầy lôi cuốn của các khu
rừng rậm Brazil. Vùng ngoại ô của thị trấn San
Salvador được vây quanh bởi bức tường xanh
thẫm của khu rừng mưa nhiệt đới. Nhưng đó
đây, trong những khoảng rừng thưa nhỏ đã
L
bị chặt phá, nhiều loài thực vật có quả và hạt
mọc chen chúc lẫn nhau, đấu tranh với nhau
để giành lấy sự sinh tồn. Ben đang dừng cuộc
thám hiểm để nhét vào miệng cậu ta chuối,
cam, đu đủ và những thứ trái cây hấp dẫn khác
mọc hai bên đường, và Darwin phải ngăn lại...
“Con thích được bỏ lại trên đảo hoang này”,
Ben vừa nói vừa nhai tóp tép phần thịt của quả
dừa mà cậu ta vừa bẻ đôi ra uống thỏa mãn cơn
khát của mình. “Con có thể thết mình một
bữa yến tiệc của ông hoàng với những thứ trái
cây này.”
“Ta đồng ý”, Darwin vừa nói vừa trỏ vào
những trái bắp, những củ khoai có mùi vị
giống như khoai lang, đó là một loài chuối gọi
là chuối lá(1), và những củ khoai mì đầy tinh
bột. “Nhưng chúng ta sẽ không bị bỏ lại trên
đảo hoang này đâu, Ben ạ. Ta e rằng ta phải lôi
con ra khỏi bữa tiệc này nếu như ta muốn tiếp
tục cuộc thám hiểm của ta. Tuy vậy, ta cũng
sẽ không để con phải làm việc với cái dạ dày
trống rỗng đâu !”
1 tiếng Anh : plantain
21
Ngày 29 tháng 2 năm 1832
ột giờ cuốc bộ đã đưa họ vào sâu trong khu rừng. Darwin
say mê đứng nhìn. Mặc dù suốt dọc đường dàn hợp xướng
inh ỏi của các loài côn trùng gần như đã khiến họ điếc tai, nhưng
ở đây không một âm thanh nào có thể xuyên qua sự yên tĩnh
tuyệt đối này. Cây cối quấn chặt lấy nhau, vươn cao trên đầu họ
giống như những cái cột buồm của một con tàu, nhưng màu xanh của
chúng đậm đến nỗi che hết cả ánh sáng mặt trời. Những nơi nào các cành
cây không vươn đến được thì ở đó có những đám rêu Tây Ban Nha xanh
um. Các loài dây leo có lá mượt như nhung và những bông hoa lớn, sặc sỡ
phản chiếu những tia nắng mặt trời được lọc qua lá cây. Một con mắt sáng
lấp ló giữa các răng lược của cây cọ bắp cải và những chiếc lông đầy màu
sắc lóe sáng đã thu hút sự chú ý của Ben.
“Nó là con vẹt phải không ?”, cậu ta thì thầm đầy hào hứng.
“Nó là con chim tucăng,(1)” Darwin trả lời. Hãy quan sát hình dạng cái
mỏ của con chim. Bất kỳ loài chim nào mà thức ăn chính là trái cây đều có
chiếc mỏ cong; còn loài chim ăn cá do phải thăm dò con mồi trơn tuột hay
vùng vẫy nên lại có cái mỏ dài và hẹp. Những loài chim ăn côn trùng thì có
mỏ như chiếc kẹp nhỏ, còn loài ăn hạt quả lại cần có cái mỏ chắc khỏe. Con
thấy đấy, tất cả đều là kết quả của việc quan sát. Để đạt được những kết quả
M
1 tiếng Anh: toucan
22
này cần phải có đôi mắt tinh tế.”
Có nhiều loài chim ruồi, tất cả chúng đều
nhỏ xíu, luôn lượn lờ quanh những bông hoa, và
thỉnh thoảng đuổi theo những chú bướm đang định hút
mật hoa. Cánh của những con chim này cử động nhanh
đến nỗi họ thấy chúng dường như không động đậy chút
nào. Chỉ có tiếng đập cánh vù vù và tốc độ bay nhanh đến
mức lao vút đi đã cho thấy những đôi cánh luôn bận rộn kia
là những chiếc bánh lái hiệu quả biết dường nào.
Darwin và Ben vừa đến một chỗ đất khá bằng phẳng thì
trời cũng bắt đầu mưa. Những giọt mưa nặng hạt và ấm áp
lộp độp rơi xuống, xuyên qua những tán lá bóng loáng,
làm cho bầu không khí trở nên ẩm ướt. Ngạc nhiên vì
nỗi những tán lá của khu rừng không đủ che chở họ khỏi
bị ướt, họ bắt đầu băng mình chạy ngược xuống theo hướng
con đường mòn. Nhưng Darwin và cậu bé đã bị ướt sũng trước
khi trận
mưa như trút nước kia dừng lại cũng đột ngột y như
khi nó bắt đầu rơi xuống.
23
Ngày 4 tháng 4 năm 1832
uối cùng, Darwin cũng không thất vọng
vì ông đã có cả ba tháng ở Brazil, phần lớn
là ở trong làng Botofogo ở bên ngoài thành phố
Rio de Janeiro. Tại đây, ông thuê một túp lều
tranh để từ đó có thể dễ dàng đến thăm khu
rừng mưa nhiệt đới thường xuyên. Ông không
bao giờ trở về tay không. Khi biết rằng có một
vài loài nhện nhiệt đới và bọ hung nhỏ hơn các
loài ông đã từng nhìn thấy ở London, Darwin
tập trung mọi nỗ lực để thu thập những loài
này. Với sự giúp đỡ của Ben, chẳng bao lâu
sau ông đã đóng gói một thùng lớn đựng các
mẫu vật trong bông gòn để gởi về vị giáo sư và
cũng là người bạn cũ của ông, nhà sinh vật học
Henslow.
Chẳng mấy chốc Ben cũng học được rằng
cần phải tìm kiếm thứ gì, dù rằng bản thân lũ
côn trùng thường lẩn trốn cậu ở khoảng cách
rất xa. Cần phải tinh mắt để nhận ra được con
côn trùng màu xám đục lẫn giữa một nhánh
cây cùng màu. Cũng cần phải có kinh nghiệm
C
24
để khám phá ra rằng một con bọ cạp trông có
vẻ dữ tợn thực chất chỉ là một con bọ vô hại,
hay một loại trái cây có chất độc thực ra chỉ là
một con bọ cánh cứng. Cả hai loài này đều tự
cải trang nhằm bảo vệ mình khỏi những động
vật săn mồi. Darwin chỉ cho Ben xem một con
bọ mà cánh của nó có thể làm người ta nhầm
tưởng là một chiếc lá rụng và một con bọ khác
trông giống như một cụm gồm nhiều cánh hoa.
Trong những lùm cây nhỏ màu cam,
Darwin thu thập được nhiều mẫu vật của
loài bướm đốm xám Papilio Feronia, một loài
bướm nhỏ đặc biệt có thể giở ra nhiều trò cải
trang kỳ lạ nhằm đánh lừa kẻ thù.
Lúc đầu, thật khó có thể dùng cặp nhíp
Ong bắp cày
Pepsis
Bướm Papilio
Feronia
Sâu củ
a
Bướm đ
u
ôi én
để bắt con bướm này do nó có thói quen đậu
xoãi cánh ra chứ không gập lại như những loài
bướm khác. Hơn nữa, nó còn khả năng chạy
trốn bằng chân và nhiều lần đã thoát khỏi tầm
với của Darwin. Ông gọi Ben đến nghe tiếng
tanh tách ầm ĩ khi nó đuổi theo một con bướm
cái qua các bụi cây. Ngay cả khi ở cách xa hai
mươi mét, họ vẫn nghe thấy rất rõ những âm
thanh này.
Một lần nọ, họ tình cờ bắt gặp một trận thư
hùng giữa một con ong bắp cày Pepsis và một
con nhện lớn. Con ong lao bổ vào tấn công
liên tiếp. Mặc dù đã chống trả một cách dũng
mãnh, cuối cùng con nhện cũng bị thương và
phải bò lết vào một đám cỏ cao. Tuy vậy, con
ong vẫn không buông tha. Nó lùng sục ngược
xuôi cho đến lúc phát hiện ra nơi ẩn náu của
con mồi, và lao vào chích cho hai phát chí
mạng. Khi con nhện đã chết, con ong bắp cày
bèn đáp xuống bên cạnh để lôi xác kẻ thù đi.
“Eo ôi!” Ben vừa kêu lên vừa xua nó đi.
“Eo ôi!” Darwin bắt chước và búng nhẹ vào
nó lần nữa. “Mặc dù quy luật của rừng già quy
định rằng tất cả sinh vật đều phải hoặc là kẻ
săn mồi hoặc là bị ăn thịt, nhưng ta vẫn thương
xót cho kẻ bị thua.”
Buổi tối, họ thường ngồi bên ngoài túp lều
tranh, vừa lắng nghe tiếng nỉ non của dàn đồng
ca gồm ve, dế và ếch nhái, vừa ngắm nhìn
những con đom đóm lập lòe ở trước hàng dậu.
Cũng như loài sâu phát sáng, ánh sáng của côn
trùng phát ra từ một chất lỏng sáng ở ngay dưới
bề mặt của lớp vỏ. Nó tỏa sáng rất rõ qua hai
cái vòng lớn ở vòng bụng của côn trùng. Khi
Darwin chạm vào một con đóm đóm, nó thậm
chí phát sáng còn mạnh hơn và ông nhận thấy
rằng những vệt sáng này vẫn tiếp tục phát sáng
thêm gần hai mươi bốn giờ sau khi loài côn
trùng này đã chết.
25
21
ột lần nọ, Darwin và Ben trở về với sáu
mươi tám loài bọ cánh cứng nhỏ xíu khác
nhau. Darwin vui mừng khôn xiết với thành quả
này. Sau khi cẩn thận chọn lựa từng con của
mỗi loài cho các bộ sưu tập của mình, Darwin
giết những con côn trùng bằng thuốc độc.
“Có thể nói rằng đây là một bộ sưu tập
về bọ cánh cứng tuyệt vời nhất mà ta
đã từng thực hiện,” Darwin nói một
cách vui sướng khi ông và Ben phân
loại những con côn trùng thành từng
dãy theo màu sắc, giới tính và các
đặc điểm khác, sau đó ghim chúng
thành những hàng ngay ngắn trên những khay
đựng mẫu của ông.
“Ngài chưa hề nghĩ rằng ...
 





